CHIA SẺ
Những lời dạy đạo thực tiễn trong sáng của Tổ Sư Ấn Độ ATISA (ATISHA) về tinh túy của Phật Pháp lúc truyền Đạo Phật qua Tây Tạng và vùng Hy Mã Lạp Sơn:
Có thể nêu ra bốn đặc điểm rõ rệt, dễ nhận thấy trong giáo thuyết của Atisa:
1) Đặt trọng tâm vào việc thực hành tu chứng liên tục hằng ngàythực hiện trọn vẹn Mười Đại Hạnh Nguyện Phổ Hiền;
2) Thống nhất lại tất cả Giáo Pháp của Phật Giáo Nguyên ThủyPhật Giáo Đại Thừa và Phật Giáo Kim Cang Thừa trong việc hành trì tu chứng cụ thể mỗi ngày;
3) Chú trọng đặc biệt đến việc giữ giới luật, trì giới một cách nghiêm mật, thực hành cả giới luật thanh tịnh ngay cả lúc hành trì những pháp môn tối mật của Mật Tông Kim Cang thừatuyệt đối cấm hành dục ngay cả lúc tu chứng những pháp môn chuyển dục thành Đại Bi và Trí Huệ Không Tính;
4) Phối hợp đồng nhất Phương Tiện Thiện Xảo (Bồ Đề Tâm) với Bát Nhã Trí Huệ (Không Tính) trong từng cử chỉ, từng việc làm mỗi ngày, từng lời nói thường nhật, từng ý nghĩ tư tưởng kín đáo trong tâm thức lưu chuyển từng giây phút.
Điểm thứ 4 này có thể khai triển như sau:
a) Phối hợp tất cả giáo thuyết của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật vào ý nghĩa tương đối và tuyệt đối của Bodhicitta (Lòng Bồ ĐềBồ Đề Tâm) trong việc tu chứng thể nhập liên tục Mười Đại Hạnh Nguyện Vương của Phổ Hiền;
b) Khai thông hai lộ trình rộng và sâu (quảng và thâm) của Bồ Đề Tâm; đường rộng tức là con đường của Đại Từ Bi từ Quán Thế Âm Bồ Tát và Di Lặc Bồ Tát cho đến Tổ Sư Vô Trước (Asanga) và đường sâu tức là con đường của Đại Trí Huệ từ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cho đến Tổ Sư Long Thọ (Nagarjuna);
c) Rồi liên tục phối hợp đồng nhất con đường rộng (Đại TừĐại BiPhương Tiện Thiện Xảo) và con đường sâu (Đại Trí Huệ Bát Nhã Không Tính);
d) Phối hợp đồng nhất cả hai con đương này vào một con đường vừa rộng vừa sâu (qunảg thâm), vừa sâu vừa rộng (thâm quảng) tức là con đường của Đại Hạnh trong việc tu chứng Bồ Tát Hạnh cho đến lúc viên mãn thành tựu Giác Ngộ siêu việt, tức là ngộ nhập toàn diện Mười Đại Hạnh Nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát một cách liên tục sâu rộngvô biênvô giới hạn, vô cùng tận;
e) Hồi hướng tất cả công đức vô lượng cho tất cả chúng sinh một cách thường trựcvô cùng tậnthân khẩu ý không hề mệt nản (… Bồ Tát như thị sở tu hồi hướnghư không giới tận, chúng sinh giới tận, chúng sinh nghiệp tận, chúng sinh phiền não tận, ngã thử hồi hướng vô hữu cùng tậnniệm niệm tương tục vô hữu gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm).
Mỗi khi chúng ta nghe được và học được bất cứ lời dạy đạo thực tiễn nào của Tổ Sư Thánh Tăng Atisha, chúng ta phải suy nghĩ cặn kẽ và chứng nhập thực hành lời dạy đạo cụ thể ấy trong chân trời sáng rực của bốn đặc điểm nêu ra ở trên cùng với năm điều khai triển sâu rộng ở đặc điểm thứ tư.

Trích: “Tinh Túy Trong Sáng Của Đạo Lý Phật Giáo” – Những Lời dạy thực tiễn của Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ ATISA Lúc truyền Đạo Phật vào Tây Tạng