slide1slide 2
Đăng ký nhận pháp bảo mới
Email:
Đăng Ký
Hỗ trợ trực tuyến
Chia sẻ thỉnh Pháp bảo 01
0916282466
Chia sẻ thỉnh Pháp bảo 02
0915436810
Chia sẻ thỉnh Pháp bảo 03
0983849988
Thống kê truy cập
MẠNG XÃ HỘI

Luyện Bồ Đề Tâm Tương Đối

Luyện Bồ Đề Tâm Tương Đối

LUYỆN BỒ ĐỀ TÂM TƯƠNG ĐỐI

 

 

Có sáu phần:

1. Thiền quán về bình đẳng giữa ta và người

2. Quán những nguy hiểm của ngã ái

3. Quán những lợi lạc của vị tha

4. Quán đổi địa vị mình với người

5. Quán nhận và cho

6. Quán tâm bồ đề

 

1. Thiền quán bình đẳng giữa ta và người

 

Mặc dù không được giải thích rõ trong bản văn gốc Bảy Điểm Luyện Tâm, pháp thiền này mặc nhiên bao hàm trong đó. Bồ tát Hạnh của Tịch Thiên (Shantideva) giải thích đầy đủ pháp hành như sau:

 

Trước tiên nên quán ta, người

Giống nhau ở chỗ tìm vui, tránh phiền

Nên cần thương cả chúng sinh

Cũng như thương bản thân mình thế thôi.

 

Pháp thiền quán ta người bình đẳng là một trong những phương pháp tốt nhất để khai triển tâm từ, trọng điểm của pháp luyện tâm. Đấy là một pháp hành vô cùng trọng yếu vì nếu không có kinh nghiệm về mình người bình đẳng thì ta không thể nào đạt thực chứng về pháp đổi địa vị mình cho người.

 

Cái gì chúng ta cần phải thấy bình đẳng trong pháp thiền quán này? Ta phải làm cho sự yêu thương người khác cũng ngang bằng với sự yêu quý bản thân, thương người như thể thương thân. Điều này không thể làm được nếu ta chưa thuần thục trong việc học Pháp. Hiện tại, mỗi khi ta suy nghĩ, cái gì liên hệ đến “tôi” đều hết sức quan trọng, cái gì liên hệ đến người khác thì tầm quan trọng kém xa. Điều ấy chứng tỏ ta không thương người khác nhiều như thương bản thân. Khi gặp khó khăn rắc rối ta dễ trở thành nản lòng khổ sở, nhưng hiếm có khi nào ta hốt hoảng vì người khác gặp rắc rối. Quả thực đôi khi ta lại còn mừng khi nghe việc không may xảy đến cho một số người. Điều này chứng tỏ ta chưa yêu thương kẻ khác bằng yêu thương bản thân.

 

Ta có thể tự hỏi tại sao thấy được mình người bình đẳng lại quan trọng đến thế. Cái gì sẽ xảy ra nếu ta không làm được điều này? Sẽ có hai lỗi lầm trọng đại. Trước hết là ta sẽ gặp rắc rối ngay trong đời này. Ví dụ nếu không thương người như thương mình, ta có thể nổi giận người khác và hành động một cách ích kỷ, tiêu cực, và điều này sẽ đưa ta đến những hậu quả không vui. Lỗi lầm thứ hai là ta sẽ không phát triển được tâm bồ đề, và nếu không có tâm bồ đề thì ta không thể đạt thực chứng nào trong đạo Đại thừa, chưa nói gì đến quả Phật. Những hành giả Ấn Tạng ngày xưa đều thừa nhận rằng tâm Từ là một nhân tố đặc biệt của tâm bồ đề. Ngay cả với những người không theo một con đường tâm linh nào, điều quan trọng là họ cũng nên thực tập phần nào việc xem mình người bình đẳng, vì nếu không, chắc chắn họ sẽ gặp rắc rối. Ví dụ khi giao thiệp với một người nào, nếu ta thương mến và lưu tâm đến họ, thì cả đôi bên đều sung sướng, nhưng nếu ta chỉ quan tâm đến bản thân mình, thì người kia chẳng bao lâu sẽ cảm thấy không vui, và tình bạn giữa ta với họ sẽ không bền bỉ. Nếu không học cách yêu thương kẻ khác, ta sẽ không có được tình yêu bền vững, sẽ thấy khó mà giao hảo với người, và sẽ không được thỏa mãn thực thụ và dài lâu. Bởi thế ta cần phải luôn luôn cố gắng xem trọng kẻ khác, quý mến và thương yêu họ. Sống trong một cộng đồng mà biết săn sóc cho nhau thì tự nhiên ta sẽ phát được tâm Từ, kết quả là mọi người đều cảm thấy bình an hạnh phúc. Ta nên nghĩ “Mọi người cũng như tôi, muốn được sung sướng. Bởi thế tôi phải nỗ lực tạo hạnh phúc cho họ cũng như cho chính tôi.” Một người quan tâm đến kẻ khác theo cách ấy chính là xem người như mình, hay quán mình người bình đẳng. Nếu ta luôn duy trì tâm niệm ấy, tự nhiên người khác sẽ có cảm tình tử tế với ta. Lúc đầu ta nên cố thực tập điều này đối với bạn hữu và những người mà ta thường xuyên gặp gỡ, rồi sau đó khi đã quen thuộc với điều này, hãy nới rộng phạm vi tu tập cho đến khi cuối cùng ta có thể bao phủ tất cả mọi người trong tình thương mến. Lúc mới tu pháp thiền quán này, ta có thể hoài nghi về thực chất của việc cố tẩy trừ khổ đau cho kẻ khác. Ta nghĩ, sự khổ của kẻ khác đâu có tác động gì đến tôi. Ai cũng phải tự mang lấy nỗi khổ của mình, thế thì sao tôi lại phải cố xua tan nỗi khổ cho kẻ khác? Đã đành chúng ta không trực tiếp nếm trải khổ đau của người, nhưng không phải vì thế mà ta không nên cố gắng giúp đỡ họ. Nếu chân ta bị đạp gai thì bàn tay ta liền đưa ra rút cái gai mặc dù nó không trực tiếp chịu đau. Cũng thế, nếu ta xem tất cả chúng sinh như một thân thể duy nhất vì cùng muốn thoát khổ, ta sẽ không ngần ngại cố làm giảm bớt khổ đau cho người. Ta nên nghĩ:

 

Các hữu tình khác cũng như tôi, muốn được hạnh phúc lâu dài. Bởi thế tất cả chúng ta đều giống nhau. Vậy có phải là điều phi lý nếu chỉ tìm hạnh phúc cho riêng tôi mà làm ngơ sự an lạc của người khác?

 

Quán mình người bình đẳng là nền tảng của mọi pháp hành sau đó, để cuối cùng đưa đến giác ngộ. Bởi thế ta nên tự khích lệ mình bằng cách quán như sau:

 

Nay ta đã có được thân người quý báu. Nếu ta không lợi dụng nó để đạt giác ngộ thì thật là uổng phí một cơ hội bằng vàng. Muốn đạt giác ngộ, tôi cần phải quán sát mình người bình đẳng. Khi ấy tôi sẽ có thể luyện tập các pháp hành cho và nhận, phát triển tâm đại bi và tâm bồ đề tôn quý, để cuối cùng thành Phật.

 

Muốn thực hành pháp quán mình người bình đẳng, ta phải khởi sự bằng cách xét cẩn thận tất cả những điểm trước đấy cho đến chừng nào ta thấy được rõ ràng sự an lạc của kẻ khác cũng quan trọng như sự an lạc của chính mình. Điều này sẽ dẫn đến cảm giác mình người bình đẳng. Ta tập trung vào cảm giác này một lúc, rồi lập nguyện như sau: “Tôi sẽ yêu thương kẻ khác như thương chính thân tôi”, và thiền quán về lời nguyện này càng lâu càng tốt. Khi xuất thiền, suốt ngày ta nên luôn nhớ lại những cảm giác và quyết định mà ta đã có trong thời thiền quán. Mỗi khi thấy người nào đau đớn hay gặp khó khăn, ta nên có phản ứng tìm cách giúp đỡ họ. Nếu không giúp một cách thực tiễn, ít nhất ta nên cố giúp họ trong tâm với lời cầu nguyện. Thí dụ, mặc dù ta không thể đơn độc mang lại hòa bình khi có hai phe lâm chiến, ít nhất ta có thể cảm thấy quan tâm đến tất cả những người trong cuộc bằng cách hồi hướng công đức cho họ như: “Mong nhờ công đức những việc lành này, chiến tranh được chấm dứt.” Nói chung, ta có thể hướng công đức của ta cho bất cứ một lý do tốt đẹp nào, và điều ấy sẽ gián tiếp giải quyết nhiều rắc rối. Nếu chúng ta thường có tâm mong mỏi giúp đỡ người khác, thì ta sẽ luôn tìm được cách giúp đỡ họ, trực tiếp hay gián tiếp, như Long Thụ nói trong Luận về Tâm Bồ Đề:

 

Dù không thể trực tiếp giúp đỡ người

Chúng ta cũng nên cố phát triển một thiện tâm

Nếu sự phát tâm lành càng ngày càng mạnh mẽ

Tự nhiên ta sẽ tìm ra những cách giúp người

 

Ta chỉ có thể giúp đỡ người khác khi ta mong muốn làm việc này, bởi vậy ta nên thường xuyên đào luyện thiện ý ấy. Nếu trong những hoạt động hàng ngày, tâm ta luôn duy trì thiện ý, thì ta sẽ tìm thấy những cơ hội giúp người xảy đến thường xuyên hơn.

 

Điểm thiết yếu nữa là ta phải luôn khẩn cầu chư Phật Bồ tát gia hộ cho mình đạt thực chứng về tâm Từ để thương người như thể thương thân. Ta có thể tụng bài nguyện sau đây rút từ Cúng Dường Đạo Sư:

 

Không ai muốn khổ đau dù chỉ chút ít,
Không ai bằng lòng với hạnh phúc mình có,
Về điểm này, mọi người đều giống nhau
Vì thấy vậy, con xin chư Phật gia hộ cho con
Vui thích làm người khác sung sướng.

 

Chương này đưa ra một loạt các pháp thiền mà khởi đầu là quán mình người bình đẳng. Chúng ta nên dành càng nhiều thì giờ càng tốt cho mỗi pháp thiền. Nếu muốn, ta có thể dành hàng tuần, hàng tháng, ngay cả hàng năm để thiền quán chỉ một pháp này mà thôi.

 

2. Quán những nguy hiểm của ngã ái

 

Quy tất cả tai họa vào một

 

Dòng kệ này hiển thị rằng tất cả rắc rối khổ đau đều có thể quy cho một manh mối duy nhất, đó là cái tâm tự thương mình. Ta chỉ nên trách cứ cái tâm ấy vì nó là nguyên do tất cả những tai họa đến với ta. Vì tự thương thân, ta đương nhiên muốn có được tất cả mọi điều tốt đẹp trên đời. Muốn có được chúng, ta dấn mình vào những hành vi ích kỷ hại nhân. Bằng cách ấy sự tự thương thân dẫn dắt ta phạm những nghiệp cứ ném chúng ta trở đi trở lại trong các cõi tái sinh đau khổ. Và cứ mỗi lần tái sinh vào cõi sinh tử, là chúng ta lại phải chịu đựng tất cả những thống khổ ta đã trải qua. Nếu không có cái tâm ái luyến tự ngã, thì ta đâu đến nỗi làm những hành vi thiếu khôn ngoan như vậy, và đâu phải chịu những hậu quả khó chịu của chúng. Hữu tình làm những hành vi xấu như giết hại mạng sống, là vì chỉ muốn cho mình được sung sướng. Phần đông các thú vật chẳng hạn, vì muốn sống nên săn đuổi những con vật khác để ăn thịt. Cũng tương tự, con người thường nổi lên giận dữ khi bị kẻ khác đe dọa làm hại. Nếu ta quyết định trả thù, thì chính vì ta tự xem mình hết sức quý báu. Khi thấy một tên trộm bị bắt bỏ tù, ta bảo nó bị tù vì phạm tội, nhưng nguyên nhân chính là cái tâm ái luyến tự ngã. Nếu ta khổ sở vì mong cầu không được, thì chính vì trong quá khứ với tâm ngã ái ích kỷ, ta đã cản trở người khác có được điều họ mong muốn. Trong các đời trước, do thói ích kỷ, ta đã gieo đau khổ cho thân tâm người khác, khiến họ không được toại nguyện. Do nguyên nhân ấy ngày nay ta phải gặp khó khăn, muốn gì cũng không được vừa ý, thân thể tâm trí đều không lành mạnh và gặp nhiều chướng ngại. Tất cả những rắc rối này đều có nguyên nhân là ngã ái. Nếu xét kỹ điều này, ta sẽ thấy không lỗi lầm nào không do ngã ái mà ra. bởi thế ta hãy lập chí cương quyết diệt trừ ngã ái. Phật dạy:

 

Hãy nhìn cái cảnh sinh tử,

thật không có một sự gì tốt đẹp.

Do kẻ thù là ngã ái,

Một con cọp cái đói lòng

Sẽ ngốn ngấu ngay cả con của nó.

 

Trong Bồ tát Hạnh, Tịch Thiên nói:

Bao nhiêu tai họa ở đời

Hãi hùng khủng khiếp đêm dài bất an

Đều do chấp ngã thương thân

Ác ma ăn hại, ta cần để chi?

 

Có chỗ nói tâm chấp ngã, chỗ nói tâm ái luyến tự ngã. Hai thứ khác nhau chỗ nào? Tâm chấp ngã thì hiểu và nắm lấy cái tôi xem nó là có thực; còn ngã ái (ái luyến tự ngã) thì yêu mến cái tôi ấy, xem nó hết sức đáng yêu. Hai loại tâm này là gốc rễ của mọi rắc rối đến với chúng ta. Vì luôn luôn tận lực yêu mến bản thân, ta thấy thực khó lòng chịu đựng một rắc rối nào dù nhỏ nhặt nhất. Bởi thế mà ta mãi mãi sống trong lo âu sợ hãi bất an. Tất cả khổ tâm do cầu không được và do tiếp xúc với những đối tượng khó ưa, đều phát xuất từ ngã ái. Những Bồ tát cao cấp vì không còn ngã ái nên không sợ hãi bất cứ gì. Dù phải đối mặt với con cọp hung dữ nhất họ cũng không kinh sợ. Vì xem tất cả chúng sinh như mẹ mình, Bồ tát chỉ cảm thấy thương xót chứ không hãi sợ khi gặp thú dữ. Nói vậy không có nghĩa là Bồ tát không tự che chở để khỏi bị tổn hại một cách vô ích. Một trong những đức tính cao cả của Bồ tát là có thể hoan hỉ hy sinh một phần hay toàn phần thân thể cho kẻ khác, nhưng trước hết Bồ tát xét kỹ tình huống để nếu có hy sinh thì hành vi ấy phải đem lại lợi ích. Cũng thế, ta nên thận trọng đừng liều mạng với hiểm nguy một cách không cần thiết. Nếu không có lợi cho ai cả, thì không lý do gì mà liều mạng để bị thương hay chết. Ta không nên nghĩ bảo vệ thân thể mình nhất định là một dấu hiệu của ngã ái. Mỗi khi quán tưởng những nguy hiểm của ngã ái, ta có thể khởi lên hoài nghi, nghĩ rằng nếu không có ngã ái thì ta không có động lực nào để làm việc, nếu không làm việc ta sẽ không có tiền, không tiền ta sẽ không sống nỗi; và từ đó kết luận rằng nhờ tự thương mình, ta mới có thể sống còn. Nhưng thực ra, không cần thiết phải thương thân ta mới mong muốn làm việc. Trên đời có nhiều người có tâm vị tha chỉ làm việc cho kẻ khác. Những hành giả thực tâm học Pháp thì chỉ muốn làm việc đủ sống để tu tập. Mục đích tối hậu của họ là đạt giác ngộ để lợi lạc tất cả hữu tình. Đôi khi ta nghĩ rằng trên đời, những người có vẻ thành công nhất chính là nhờ họ hết sức yêu mến bản thân. Nhờ có tham vọng và ngã ái làm động lực thúc đẩy, họ đã siêng năng làm lụng, và bây giờ mới đạt được kết quả. Nếu nghĩ như thế là ta chưa hiểu gì về tương quan giữa nghiệp và quả báo của nghiệp. Ta cần hiểu rõ trước hết, quả nào theo sau nghiệp nào. Một nhà doanh nghiệp bị phá sản cũng tự thương mình không khác gì một nhà doanh nghiệp thành công. Nếu tự thương mình là then chốt của thành công, thì tại sao người này phát tài, người kia phá sản? Phật dạy nguyên nhân của giàu có là bố thí. Vậy, sự khác nhau giữa người buôn bán thành công và người buôn bán thất bại là do trong tiền kiếp, một người đã thực hành bố thí còn người kia không. Mỗi khi khởi lên hoài nghi về vấn đề này, ta nên xét kỹ. Nếu áp dụng lý luận vững chắc ta có thể giải quyết tất cả mọi sai lầm của mình. Muốn thực hành pháp thiền quán này ta nên cố ý thức trọn vẹn những nguy hiểm của ngã ái, và kết thúc với quyết định hoàn toàn loại bỏ ngã ái. Rồi ta lại nên thiền quán về quyết định này một cách nhất tâm không xao lãng. Giữa các thời thiền quán, ta nên để ý đến quyết định này. Mặc dù không thể chỉ nhờ làm quyết định ấy mà ta trừ ngã ái ngay được, song duy trì ước nguyện một cách liên tục cũng sẽ rất lợi lạc cho ta. Ta cũng nên cầu nguyện với chư Phật, Bồ tát và thánh chúng gia trì thêm năng lực cho ta để có thể vượt qua thói ái luyến tự ngã. Ta có thể tụng bài nguyện sau đây trong Cúng Dường Đạo Sư:

 

Vì thấy ngã ái, căn bệnh kinh niên này,
Chính là nguyên nhân đưa đến khổ đau không ai muốn,
Xin ngài gia hộ con trừ diệt thói vị kỷ, con ma lớn ấy,
Bằng cách thấy rõ chỉ có nó là đáng trách.

 

3. Quán những lợi lạc của tâm vị tha

 

Thiền quán về lòng tốt vĩ đại của tất cả hữu tình

 

Thân người quý báu mà nay ta có được là nhờ lòng tốt của tất cả chúng sinh. Cũng vậy những lạc thú ta thụ hưởng trong đời người, như giáo dục, hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm, vân vân, tất cả đều có được nhờ thiện tâm của nhiều người khác. Những cơ hội nghe Pháp, thiền quán, vân vân đều do lòng tốt của người khác đem lại; giác ngộ giải thoát cũng nhờ sự hỗ trợ của nhiều người. Nếu thiền quán theo cách ấy ta sẽ thấy rõ sự tử tế của tất cả hữu tình đối với ta. Vì nguyên nhân chính để được làm người là giữ giới, bố thí, nhẫn nhục, nên chắc hẳn trong đời quá khứ ta đã thực hành những pháp này. Nhưng ai là đối tượng cho ta thực hành những pháp ấy? Chính là những người khác, chúng sinh khác. Nếu không có họ, ta đã không thể tạo nhân tốt để được sinh làm người. Chính nhờ họ mà ta đã được đời người quý báu, còn có ý nghĩa hơn tất cả vũ trụ đầy châu ngọc. Những nhu yếu hàng ngày của ta có được là nhờ sự tử tế của người khác. Khi sinh ra đời, ta không mang theo một thứ gì từ các đời quá khứ, vậy mà vừa mở mắt chào đời, ta đã được cung cấp nhà ở, thực phẩm, quần áo, và bất cứ gì ta cần, tất cả là do lòng tốt của người khác. Mọi thứ hiện nay ta thụ hưởng đều do sự bố thí của những hữu tình khác trong quá khứ hoặc hiện tại. Chúng ta có thể sử dụng được rất nhiều thứ mà không phải hao phí nhiều sức lực của riêng ta. Nếu ta xét đến những tiện nghi như đường xá, nhà ở, xe hơi, tàu hỏa, phi cơ, tàu biển, nhà hàng, khách sạn, thư viện, viện bảo tàng và các cửa hiệu, ta thấy rõ rằng nhiều người đã phải tận lực làm việc và chịu nhiều gian khổ để làm ra những công trình ấy. Ta có thể nghĩ, đâu phải do lòng tốt người khác mà ta sử dụng được những thứ ấy, chính ta phải trả tiền đấy chứ. Nhưng tiền ấy ở đâu ra? Nó không phải trên trời rơi xuống hay dưới đất mọc lên, mà do người khác cung cấp. Ta lại có thể cho rằng đâu phải ai cho ta tiền, mà chính ta kiếm được bằng sức lao động nhọc nhằn. Nhưng công việc ta có được cũng do người khác cung cấp. Phải có người thuê mướn ta, hoặc cùng làm với ta. Được cung cấp việc làm thì cũng như được cung cấp tiền bạc vậy. Nếu xét thật kỹ ta sẽ thấy rõ người khác tử tế giúp đỡ chúng ta như thế nào. Nhờ xét kỹ như vậy ta đi đến kết luận, ta phải yêu thương mọi người, mọi chúng sinh vì họ rất tử tế. Với quyết định ấy chúng ta nên phát sinh một lòng thương đồng đẳng tất cả hữu tình, rồi nhất tâm quán tưởng tâm từ. Nếu suy nghĩ sáng suốt, ta cũng sẽ hiểu được rằng tất cả hạnh phúc ta trong hiện tại và tương lai đều tùy thuộc vào sự yêu thương của ta đối với người khác. Vì sao? Trong các đời quá khứ ta đã tránh giết hại, trộm cắp của những người mà ta thương mến, và ta rộng rãi kiên nhẫn với họ vì ta yêu mến họ. Do hậu quả những hành vi tốt đẹp này, mà nay ta có được thân người quý báu. Đôi lúc trong quá khứ chúng ta cũng đã giúp đỡ và che chở người khác vì ta quan tâm đến họ, và nhờ vậy nay ta lại nhận được sự giúp đỡ và hưởng được hoàn cảnh dễ chịu. Nếu trong đời này ta thực hành sự thương yêu kẻ khác một cách chân thật, ta sẽ giải quyết được nhiều vấn đề như giận dữ, ganh tị, vân vân, và tâm ta sẽ luôn luôn thanh tịnh bình an. Sự yêu thương người khác làm cho họ hạnh phúc và tránh được những tranh chấp mâu thuẫn. Nếu yêu thương người khác, ta sẽ tránh làm hại họ bằng những hành vi xấu. Thay vào đó ta sẽ làm những hành vi tích cực như từ bi, nhẫn nhục, bố thí, và nhờ vậy tạo được nguyên nhân để có hạnh phúc may mắn trong tương lai. Hơn nữa, nếu xem sự thương người là pháp hành chính yếu, ta sẽ dần dần phát triển được tâm đại bi và tâm bồ đề, và cuối cùng ta sẽ đạt đến hạnh phúc tối hậu của toàn giác. Nhờ quán như vậy ta sẽ đi đến quyết định như sau: tôi phải luôn thương người, vì tâm Từ quý báu này sẽ mang lại hạnh phúc cho bản thân và người khác. Rồi ta nên duy trì tư tưởng này và nhất tâm thiền quán về nó càng lâu càng tốt. Ngoài thời tọa thiền chúng ta cũng nên luôn luôn cố giữ thái độ ấy trong tâm, dù đang làm bất cứ việc gì. Điều rất quan trọng là thỉnh cầu sự gia trì của chư Phật Bồ tát để ta có được thực chứng về cái tâm quý báu ấy, thương tất cả hữu tình. Ta có thể tụng bài cầu nguyện như sau, trong Cúng dường Đạo sư:

 

Vì thấy được tâm thương hữu tình như mẹ, mong họ được hạnh phúc
Chính là cửa ngõ đưa đến vô lượng thiện đức
Xin gia hộ con thương chúng sinh hơn cả tính mạng mình
Dù chúng có nổi lên chống lại con, xem như thù nghịch.

 

4. Thiền quán đổi địa vị mình với người

 

Sở dĩ cần nói rõ những nguy hiểm của ngã ái và lợi lạc của vị tha, là vì có quán sát như vậy nhiều lần, ta mới có thể đổi địa vị mình với người. Điều này không có nghĩa rằng chúng ta trở thành một người nào khác và họ trở thành chúng ta. Điều mà ta cần trao đổi chính là đối tượng thương yêu trong tâm ta. Nhưng khi đổi địa vị mình với người, thì đối tượng thương yêu thành ra những người khác. Chúng ta cần phải đổi địa vị mình với người bởi vì ngã ái là gốc rễ của tất cả mọi rắc rối cho ta, trong khi cái tâm thương người là nguồn suối của mọi sự tốt lành. Nhờ pháp hành này, ta sẽ tìm được hạnh phúc tương đối và tuyệt đối. Trong Bồ tát Hạnh, Tịch Thiên nói:

 

Cần chi nói lắm lời, quá rõ:

Kẻ phàm phu chỉ biết có ta

Đấng Mâu ni lợi muôn nhà

Xem hai nẻo ấy khác xa muôn trùng.

 

Ở đây phàm phu là ấu trĩ, những người chỉ làm việc vì tư lợi. Rốt cuộc họ chỉ rước lấy khổ đau, trong khi chư Phật luôn luôn vì kẻ khác thì lại đạt đến giác ngộ và hoàn toàn giải thoát khỏi đau khổ. Khi thấy sự khác nhau ấy giữa chúng sinh và Phật, ta nên lập nguyện thương yêu kẻ khác hơn bản thân nếu muốn đạt giác ngộ như ngài.

 

Ta không nên nản chí nghĩ rằng đổi địa vị mình với người đối với ta thật quá khó. Trong Bồ tát Hạnh, Tịch Thiên nói rằng ngay cả những việc vô cùng khó như thương kẻ thù tệ nhất của mình cũng hóa dễ dàng khi đã thành thói quen, bởi vậy nếu ta tu tập một cách kiên nhẫn thì chắc chắn cuối cùng ta sẽ đổi được địa vị mình với người. Cái thân thể mà hiện tại ta yêu mến không thực sự thuộc về ta, nó sinh ra do phối hợp tinh cha huyết mẹ. Vậy mà ta cứ nghĩ nó là thân thể của mình, chỉ vì ta đã quen nghĩ như thế. Cũng như đã quen thương cái thân này xem như của ta trong khi kỳ thực là của cha mẹ, ta cũng có thể đổi đối tượng ta thương thành người khác và dần dần nhờ năng lực thói quen, ta dễ dàng thương yêu kẻ khác thay vì thương thân. Ví như trường hợp tôi, khi còn là một chú tiểu tám tuổi, tôi yêu mến thân thể của chú tiểu tám tuổi, và khi thành một tỳ kheo hai mươi mốt tuổi tôi lại yêu mến thân thể tỳ kheo hai mươi mốt tuổi. Khi tôi tám mươi tuổi tôi sẽ yêu mến thân thể của một tỳ kheo già. Chúng ta cứ nghĩ rằng cái thân thể vẫn là một, nhưng kỳ thực không phải. Khi tôi trở thành tu sĩ thì thân thể đứa bé trai đã chấm dứt. Đối tượng của sự thương yêu thay đổi theo thời gian, và vì đối tượng thay đổi nên ý nghĩ về cái tôi cũng thay đổi. Con người của ta năm ngoái chẳng hạn bây giờ đã hoàn toàn chấm dứt. Vì đối tượng yêu mến của ta thay đổi tự nhiên theo cách ấy, nên không lý do gì ta không đổi được đối tượng yêu mến sang hữu tình khác. Muốn phát triển một cái tâm yêu mến người khác, ta cần nỗ lực và thói quen.

 

Khi quán sát những điểm này, ta hãy phát khởi một quyết định mạnh mẽ chỉ yêu mến người khác, rồi tập trung vào quyết định này một cách nhất tâm càng lâu càng tốt. Lúc đầu ta nên tập thương yêu bạn bè thân quyến rồi dần dần trải rộng tình yêu ấy đến tất cả hữu tình. Ta không thể thành tựu được điều này một cách mau chóng nhưng với sự tu tập kiên trì, ta sẽ thành công. Ta cần phải duy trì cảm giác thương người trong những thời gian ngoài thời thiền định và thực hành nó trong mọi hoạt động hàng ngày. Dấu hiệu của thực chứng trong pháp tu đổi địa vị mình với người là trong mọi tình huống, ta tự nhiên có tâm yêu mến kẻ khác hơn chính bản thân mình. Điều thiết yếu là nên khẩn cầu chư Phật Bồ tát và thánh chúng gia hộ cho ta đạt thực chứng đổi địa vị mình với người. Ta có thể tụng bài nguyện sau đây trích từ Cúng Dường Đạo Sư:

 

Vì ngã ái là cánh cửa mở đến mọi lỗi lầm
Và yêu mến hữu tình như mẹ là nền tảng mọi thiện đức
Xin Phật gia hộ cho con thấy được đây là pháp tu cốt tủy:
Thiền quán đổi địa vị mình với người

 

5. Thiền quán về nhận và cho

 

Tu tập xen kẽ cho và nhận

Thiền quán này gồm hai phần:

1. Nhận bằng tâm đại bi

2. Cho bằng tâm đại từ

 

Chúng ta thực tập nhận vào cho xen kẽ. Ở đây nhận có nghĩa là nhận lấy những nỗi đau khổ của người khác vào mình, và cho có nghĩa là ban phát cho họ tất cả hạnh phúc của ta. Bởi vì hữu tình không thể nào hưởng hạnh phúc hoàn toàn trong lúc họ đang chịu khổ, chúng ta hãy bắt đầu bằng nhận rồi đến cho.

 

Nhận bằng tâm đại bi

 

Chúng ta tu tập nhận với động lực là tâm đại bi. Tất cả chúng ta ai cũng đã có lần cảm thấy xót thương lúc này hay lúc khác; đây chính là Phật tính trong ta. Ví dụ, không có người nào lại không cảm thấy thương yêu con cái, cha mẹ, bạn bè mình khi những người này gặp khổ, và lại có một số người hiền thiện còn cảm thấy thương xót cả những người xa lạ. Nếu dần dần trải rộng tâm thương xót thì cuối cùng ta sẽ khởi tâm đại bi một cách tự nhiên đối với tất cả chúng sinh. Một cái tâm mong cho tất cả hữu tình hết khổ chính là tâm đại bi. Nếu ta phát triển tâm này và dần dần cải thiện nó, thì cuối cùng nó sẽ trở thành tâm đại bi của một vị Phật. Chỉ có tâm đại bi của một vị Phật mới có năng lực thực thụ che chở tất cả hữu tình khỏi khổ đau. Bởi thế con đường đạt đến giác ngộ chính là đào luyện tâm đại bi hiện có nơi chúng ta và tu tập nó đến chỗ viên mãn.

 

Đại bi là căn bản của một vị Phật, vì tất cả chư Phật đều phát xuất từ tâm đại bi, cũng là gốc rễ của Pháp vì chư Phật giảng pháp do tâm đại bi thúc đẩy; cũng là căn bản của Tăng vì không thể thành Tăng già (một đoàn thể sống hòa hợp – ND) nếu không thực hành đại bi. Một thiền giả và học giả người Mông cổ là thầy Tayang đã có bài thơ ca tụng tâm đại bi trong đó ngài viết:

 

Đại bi là Mẹ của chư Phật

Đại bi là kho tàng quý nhất của chư Bồ tát

Là người bạn vô hình của các hữu tình luân chuyển

Mong tôi được che chở bởi tâm đại bi rộng lớn.

 

Từ khởi thủy chư Phật cũng là phàm phu như chúng ta, và cũng như chúng ta, các ngài có hạt giống đại bi. Nhờ thực hành những phương pháp chính xác, các ngài tăng trưởng tâm đại bi của mình, làm cho nó ngày càng mãnh liệt cho đến cuối cùng nó đã chuyển thành tâm đại bi như tâm Phật. Do đó thầy Tayang nói tâm đại bi là mẹ của chư Phật. Nếu muốn giác ngộ, ta nên làm như Phật đã làm, là tăng trưởng tâm đại bi hiện có nơi ta. Tuy nhiên, không thể tăng trưởng tâm đại bi nếu ta không biết cách. Nhờ tâm đại bi mà chư Bồ tát vào được đạo lộ Đại thừa, và suốt thời gian tu tập họ luôn luôn khởi động tâm đại bi. Cuối cùng nhờ năng lực tâm đại bi, họ đã đạt giác ngộ. Đây là lý do Bồ tát xem đại bi như kho tàng quý nhất.

 

Tâm đại bi thực sự giúp đỡ và che chở hữu tình, nhưng vì hữu tình không thấy được tâm ấy nên nó được gọi là người bạn vô hình của những chúng sinh đang lưu chuyển. Nếu có tâm đại bi rộng lớn thì ta không còn gì phải sợ sinh tử, và sẽ không còn nguy cơ bị rơi vào các đọa xứ. Chúng ta sẽ tiến lên, từ an vui đi đến an vui, cho đến ngày đạt toàn giác. Như vậy, tâm đại bi là nơi nương tựa thực sự, là kẻ che chở thực sự của tất cả chúng sinh. Khi một người mẹ trông thấy đứa con đau đớn, bà cảm thấy thương xót vì bà yêu đứa trẻ; nhưng nếu trông thấy kẻ thù gặp rắc rối, có thể bà không xót xa gì, vì bà không thương. Nếu có một tâm thương tất cả hữu tình không thiên vị, tự nhiên bà sẽ cảm thấy thương xót kẻ thù cũng như con ruột. Ta nên cố gắng phát triển tâm đại bi không thiên vị như thế đối với tất cả chúng sinh. Muốn làm việc này trước hết ta phải trải rộng lòng thương kẻ khác cho đến khi ta cảm thấy thương yêu tất cả hữu tình. Khi ấy nếu quán sát nỗi khổ của họ, tự nhiên ta sẽ khởi lòng thương xót. Thay vì nghĩ đến những vấn đề của riêng mình chỉ tổ làm ta thêm khổ đau rầu rĩ, ta nên quán những khó khăn của người khác. Bằng cách ấy ta khởi sự đồng cảm với họ. Nếu áp dụng điều này với tất cả mọi người mà ta gặp như bạn bè, láng giềng, người xa lạ, giàu hay nghèo – ta sẽ thấy mọi người ai cũng có vấn đề. Ngay cả những người ít khổ nhất cũng vẫn phải trải qua những nỗi khổ của sinh già bệnh chết, ước muốn không thỏa, và những hoàn cảnh không vui; và tất cả mọi người đều phải chịu đựng những nỗi đau khổ cùng cực vào lúc này hay lúc khác. Trên truyền hình và báo chí, ta luôn luôn thấy mọi người chịu những thống khổ ghê gớm. Ngay cả những nguyên thủ quốc gia và những người hết sức giàu có cũng không thoát khổ. Mặc dù ta có thể ganh tị với những người như vậy vì nghĩ chắc họ rất hạnh phúc vì có tài sản địa vị, song thực tế không vậy. Họ còn bị nhiều rắc rối lo buồn hơn những người dưới họ, vì có nhiều trách nhiệm hơn, và tài sản địa vị đôi khi còn làm tính mạng họ lâm nguy. Cách thiền quán về tâm đại bi là trước hết hãy phát tâm thương tất cả hữu tình, rồi với tâm Từ, ta thiền quán về những khổ đau của họ. Cuối cùng một cảm giác thương xót sẽ khởi lên khiến ta nghĩ, thật kỳ diệu thay nếu ta có thể giải thoát tất cả chúng sinh này khỏi khổ đau. Khi cảm giác ấy khởi lên, ta duy trì nó bằng cách nhất tâm thiền định về nó càng lâu càng tốt. Một điều hết sức quan trọng nữa là phải thường xuyên khẩn cầu sư gia trì của chư Phật, Bồ tát và thánh chúng để ta phát khởi tâm đại bi rộng lớn. Ta nên đọc lời cầu nguyện sau đây trích từ Cúng Dường Đạo Sư:

 

Khi quán chúng sinh đáng thương này đều đã là mẹ con,
Những người với lòng Từ đã nâng niu con trong nhiều kiếp
Con cầu chư Phật gia hộ cho con khởi tâm đại bi tự nhiên
Như lòng mẹ yêu đứa con độc nhất.

 

Khởi đầu bằng cách đón nhận vào mình

 

Muốn tập thiền quán chịu thay (đón nhận), ta khởi sự bằng cách phát tâm thương xót tất cả hữu tình như vừa giảng, và sau đó hãy để cho tâm ta chan hòa làm một với tâm đại bi. Rồi ta bắt đầu thiền quán thực thụ chịu thay khổ đau cho người khác. Lúc đầu có thể ta thấy thực khó mà làm việc này, nhất là đón nhận lấy khổ đau của kẻ thù, nhưng điều này hóa dễ dàng khi tâm đại bi của ta tăng trưởng. Dòng kệ trong bản gốc khuyên ta nếu thấy khó mà đón nhận khổ đau của người khác, thì ta có thể bắt đầu bằng cách đón nhận khổ đau của chính mình trong tương lai. Ta không cần phải đón nhận những đau khổ của ta trong quá khứ, chỉ đón nhận những khổ đau mà ta phải chịu từ đây cho đến khi giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Trước hết ta lập nguyện:

 

Với thân tâm hiện tại, con xin đón nhận tất cả khổ đau trong tương lai. Nhờ làm vậy, con sẽ tịnh hóa mọi ác nghiệp của con và tương lai khỏi khổ. Rồi dần dà, con sẽ có thể đón nhận luôn cả khổ đau của người khác.

 

Sau khi làm quyết định ấy, ta tưởng tượng tất cả đau khổ ta sẽ phải chịu trong quãng đời còn lại như khổ về già bệnh chết, có dạng một luồng khói đen tụ thành một khối tan vào tim ta, rồi tưởng tượng nó đang phá hủy tâm ngã ái và những ác nghiệp của ta. Cũng theo cách ấy ta tưởng tượng tất cả những đau khổ trong các đời sau. Ta phát sinh niềm xác tín rằng mình đã phá hủy ngã ái và tịnh hóa ác nghiệp, rồi sinh tâm hoan hỷ. An trú trong cảm giác hoan hỷ này càng lâu càng tốt.

 

Khi đã sẵn sàng khởi sự đón nhận khổ đau thay cho người khác, ta có thể làm việc này theo hai cách. Hoặc ta tập trung vào tất cả chúng sinh nói chung và tưởng tượng ta đón nhận đau khổ thay cho họ, hoặc có thể tập trung vào một người hay một nhóm người đặc biệt, rồi chịu thay những nỗi khổ đặc biệt của họ. Muốn thực hành phương pháp thứ nhất, ta quán tất cả chúng sinh như mẹ mình và nghĩ như sau:

 

Tất cả chúng sinh không khác gì mẹ ta, đang chìm đắm trong biển khổ, phải chịu những thống khổ khốc liệt trải qua một thời gian dài. Thật kỳ diệu làm sao nếu họ được thoát khỏi biển khổ. Mong sao họ được giải thoát. Chính tôi sẽ giải thoát cho họ.

 

Và được thúc đẩy bởi lòng đại bi mãnh liệt ấy, ta nghĩ:

 

Mong sao những thống khổ và ác nghiệp của chúng sinh sẽ kết quả nơi tôi, để họ có thể tức khắc thoát khổ và nguyên nhân của khổ.

 

Ta tưởng tượng đau khổ và ác nghiệp của chúng sinh kết tụ thành một luồng khói đen tan vào trong tim ta và hoàn toàn phá hủy ngã ái nơi ta. Rồi ta phát sinh niềm tin vững chắc như sau: “Bây giờ tôi đã giải thoát tất cả chúng sinh khỏi biển khổ và đã phá hủy cái tâm chấp ngã nơi tôi.” Ta duy trì niềm tin ấy một lúc và phát sinh hân hoan. Hãy nhất tâm an trú trong niềm vui này càng lâu càng tốt.

 

Phương pháp thứ hai là tập trung vào những nhóm chúng sinh đặc biệt, như những chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, và tưởng tượng ta chịu thay những nỗi khổ đặc biệt của chúng. Ta khởi sự bằng cách tập trung vào những chúng sinh đang chịu khổ trong các địa ngục nóng, và suy nghĩ:

 

Những chúng sinh này đều là những bà mẹ tử tế của tôi, họ phải chịu sự bức bách của địa ngục cực nóng trong nhiều đời nhiều kiếp. Thật kỳ diệu thay nếu họ nhanh chóng thoát khỏi địa ngục ghê gớm này. Mong sao họ được giải thoát. Tôi sẽ là người giải thoát cho họ.

 

Với tâm đại bi này, ta nghĩ:

 

Mong sao tôi chịu thay tất cả thống khổ và ác nghiệp của họ, để họ được hoàn toàn thoát khổ và nhân khổ.

 

Với lời nguyện chân thành này, ta tưởng tượng tất cả ác nghiệp của họ kết tụ dưới dạng luồng khói đen tan vào trong tim ta và hoàn toàn phá hủy ngã ái nơi ta. Ta phát khởi niềm tin: “Nay ta đã giải thoát tất cả chúng sinh trong địa ngục nóng, và đã phá hủy tâm chấp ngã trong ta.” Duy trì niềm tin ấy trong tâm, ta phát sinh niềm hoan hỷ. Ta nhất tâm an trú trong hỷ lạc này càng lâu càng tốt. Khi đón nhận đau khổ của các chúng sinh trong địa ngục lạnh, ta tập trung vào những chúng sinh ấy và nghĩ:

 

Tất cả chúng sinh này phải chịu cái lạnh không thể chịu đựng suốt nhiều kiếp. Kỳ diệu thay nếu họ thoát khỏi nỗi khổ này. Mong sao họ được giải thoát. Tôi sẽ là người giải thoát cho họ.

 

Với lời cầu nguyện chân thành này, ta tưởng tượng tất cả đau khổ và ác nghiệp của họ kết tụ lại dưới dạng một luồng khói đen tan vào trong tim ta, hoàn toàn phá hủy ngã ái trong ta. Ta phát khởi niềm tin: “Bây giờ tôi đã giải thoát tất cả chúng sinh khỏi thống khổ của địa ngục lạnh, và đã phá hủy tâm chấp ngã nơi tôi.” Hãy duy trì niềm tin ấy một lúc và phát khởi niềm vui. An trú trong niềm hân hoan ấy càng lâu càng tốt.  Rồi ta tập trung vào các chúng sinh trong ngạ quỷ. Hãy nhớ họ đã từng là mẹ ta, quán họ phải chịu khổ đói khát trong nhiều kiếp. Vô cùng xót thương họ, ta nghĩ:

 

Thật kỳ diệu thay nếu những chúng sinh này không còn chịu đựng những thống khổ như thế. Mong họ được thoát khổ. Bản thân tôi sẽ giải thoát họ.

 

Với tâm từ mẫn này, chúng ta lập nguyện mạnh mẽ:

 

Mong sao tất cả khổ đói khát và những nghiệp bất thiện của họ sẽ có quả báo nơi tôi, để họ được thoát khổ và nguyên nhân khổ.

 

Chúng ta tưởng tượng tất cả đau khổ ác nghiệp của họ quy tụ dưới dạng luồng khói đen tan vào trong tim ta để tận trừ ngã ái trong ta. Ta phát triển niềm tin: “Nay ta đã giải thoát tất cả ngạ quỷ khỏi đói khổ, và đã phá hủy tâm chấp ngã nơi ta.” Duy trì niềm tin ấy một lúc, rồi phát khởi niềm hân hoan. An trú chính niệm trên cảm giác này càng lâu càng tốt. Rồi ta tập trung vào các chúng sinh trong cõi súc sinh và nghĩ:

 

Tất cả chúng sinh tội nghiệp này đã từng là mẹ ta, đang bị khổ ngu si, ngược đãi, bị người khai thác, giam cầm, làm thịt và nhiều nỗi lo sợ thống khổ khác. Thật kỳ diệu thay nếu chúng thoát khỏi khổ này. Mong chúng được giải thoát. Tôi là người sẽ giải thoát cho chúng.

 

Ta tưởng tượng tất cả đau khổ và ác nghiệp của chúng quy tụ lại dưới dạng một luồng khói đen tan vào trong tim ta, hoàn toàn phá hủy ngã ái nơi ta. Đồng thời tất cả súc sinh đều được giải thoát khỏi mọi nỗi khổ và nhân của khổ. Ta phát sinh niềm tin tưởng nhờ pháp hành trì chịu thay của ta, chúng đã hoàn toàn giải thoát và giờ đây chỉ cảm thọ an bình hạnh phúc; còn chúng ta thì đã thoát khỏi ngã ái. Duy trì niềm tin này một lúc và phát sinh hân hoan. An trú trong niềm hỷ lạc ấy càng lâu càng tốt. Rồi ta tập trung vào những chúng sinh trong cõi người và nghĩ:

 

Tất cả nhân loại, dù đối với tôi là bạn, thù hay xa lạ, đều phải chịu đựng vô số đau khổ như sinh già bệnh chết. Kỳ diệu thay nếu họ thoát khỏi những thống khổ này. Mong sao họ được giải thoát. Chính tôi sẽ giải thoát cho họ. Mong tất cả đau khổ và ác nghiệp của họ sẽ kết quả nơi tôi.

 

Ta tưởng tượng tất cả đau khổ và ác nghiệp của họ quy tụ lại dưới dạng một luồng khói đen tan vào trong tim ta và hoàn toàn phá hủy ngã ái nơi ta. Ta phát sinh niềm tin: “Bây giờ tôi đã giải thoát tất cả nhân loại khỏi những đau khổ riêng biệt và tổng quát của họ, và đã phá tan ngã ái nơi tôi.” Duy trì niềm tin ấy một lúc, rồi phát sinh hân hoan. Ta thiền quán về hỷ lạc này càng lâu càng tốt. Rồi ta tập trung vào những chúng sinh trong cõi tu la và nghĩ:

 

Mọi chúng sinh này đã từng là mẹ của tôi, nhưng nay họ phải chịu đựng những nỗi thống khổ vì ganh tị và đấu tranh. Kỳ diệu thay nếu họ được giải thoát khỏi khổ này. Mong sao họ được giải thoát. Tôi sẽ là người giải thoát cho họ. Mong sao nhờ tôi chịu thay khổ đau và ác nghiệp của họ, họ sẽ thoát khổ.

 

Ta tưởng tượng tất cả những ganh tị, bạo hành, đau đớn thống khổ của loài tu la quy tụ thành luồng khói đen tan vào trong tim ta và hoàn toàn phá hủy ngã ái nơi ta. Ta phát khởi niềm tin: “Bây giờ tôi đã giải thoát tất cả chúng sinh này khỏi khổ, và đã phá hủy ngã ái nơi tôi.” Duy trì niềm tin này một lúc, rồi phát sinh niềm hân hoan. Ta an trú nhất tâm vào hỷ lạc này càng lâu càng tốt. Rồi ta tập trung vào những chúng sinh trong cõi trời và nghĩ:

 

Mọi chúng sinh này đã từng là mẹ của tôi, nhưng vì phiền não ô nhiễm, khi cái chết đến, họ sẽ phải chịu đựng những sự khổ đau mất mát sắc lực, thần thông và sự an lạc. Thật là tuyệt diệu nếu họ được giải phóng khỏi những sự khổ đau và sợ hãi. Mong sao họ được giải thoát. Tôi sẽ là người giải thoát cho họ. Mong tất cả đau khổ và ác nghiệp của họ sẽ kết quả nơi tôi.

 

Với lời cầu nguyện chân thành này, ta tưởng tượng tất cả đau khổ và ác nghiệp của họ kết tụ lại dưới dạng một luồng khói đen tan vào trong tim ta, hoàn toàn phá hủy ngã ái trong ta. Ta phát khởi niềm tin: “Bây giờ tôi đã giải thoát tất cả chúng sinh khỏi thống khổ của địa ngục lạnh, và đã phá hủy tâm chấp ngã nơi tôi.” Hãy duy trì niềm tin ấy một lúc và phát khởi niềm vui. An trú trong niềm hân hoan ấy càng lâu càng tốt. Đây là cách thực hành đón nhận nỗi khổ của tất cả chúng sinh trong lục đạo. Trong mỗi cõi lại có những nỗi khổ đặc biệt và cá nhân để quán tưởng. Ví dụ khi ta tập trung vào nỗi khổ của loài người, ta có thể tập trung vào những đau khổ của một người ốm đau đặc biệt, hay một nhóm người đang bị một chứng bệnh đặc biệt, hay tất cả những người bệnh nói chung. Ta cũng có thể tập trung vào những người đang bị đói, hạn hán, nghèo khó,  chiến tranh, thiên tai, nhân nạn. Sau khi đã chọn đối tượng của mình, ta phát khởi một tâm đại bi mãnh liệt, cầu nguyện và quyết định tẩy trừ những thống khổ ấy. Rồi ta thực hành chịu thay theo cách đã nói. Cũng phương pháp ấy có thể áp dụng cho bất cứ hoàn cảnh nào ta có thể tưởng tượng.

 

Nếu ta không quen thuộc với pháp hành này, thì nên khởi sự bằng cách tập trung vào những người thân của mình, như cha mẹ con cái, bạn bè thân quyến của ta. Sau đó ta có thể dần dần nới rộng phạm vi để bao gồm những người trong một địa phương, xứ sở, nhân loại, và cuối cùng là chúng sinh trong lục đạo. Kết thúc mỗi thời thiền ta nên hồi hướng công đức như sau:

 

Mong nhờ năng lực hạnh lành này, tất cả hữu tình được thoát khỏi đau khổ, ác nghiệp, hiểm nguy và sợ hãi.

 

Ta có thể hồi hướng chung chung như thế, hoặc hồi hướng cho những mục tiêu đặc biệt như ta muốn. Thông thường ta có thể tịnh hóa ác nghiệp theo hai cách: nhờ thực hành những phương pháp sám hối, hoặc nhờ chịu đau khổ. Về cách thứ hai, Milarepa là một ví dụ. Lúc đầu, ngài đã tạo nhiều ác nghiệp, giết nhiều người. Về sau, thầy của ngài là Marpa đã bắt ngài phải chịu nhiều khó khăn gian khổ, nhờ đó ngài tiêu trừ được tất cả ác nghiệp trước kia. Tạng ngữ có câu rằng khổ ví như cái chổi quét sạch nghiệp chướng. Pháp hành chịu thay khổ đau cho kẻ khác là một phương pháp tuyệt hảo để tịnh hóa ác nghiệp, tích lũy công đức và tăng trưởng tâm đại bi nơi ta.

 

Cho bằng tâm từ mẫn

 

Có ba cách thương yêu: thương yêu bằng âu yếm, bằng chăm sóc đặc biệt, và bằng sự mong mỏi.

 

Ví dụ, khi một người mẹ tái ngộ với con sau nhiều năm xa cách, bà rất sung sướng và hết sức yêu mến con. Cảm xúc đặc biệt này gọi là sự âu yếm. Vì yêu con, bà mẹ xem con mình rất quý báu, muốn chăm sóc nó đặc biệt. Sự chăm sóc đặc biệt này là cách thương yêu thứ hai. Trong khi yêu con với hai hình thái tình yêu ấy, nếu thấy con mình không sung sướng, bà mẹ liền mong cho nó lại được hạnh phúc, và giúp nó phục hồi hạnh phúc. Sự mong giúp cho kẻ khác có được hạnh phúc là hình thái thứ ba của tình yêu, sự mong ước. Trước hết ta cần phát sinh loại tình yêu thứ nhất, rồi đến thứ hai, đối với tất cả hữu tình. Rồi khi thiền quán về sự thiếu hạnh phúc của họ, ta sẽ tự nhiên phát khởi mong ước. Chính sự mong ước này là động lực thúc đẩy ta tu tập pháp hành cho. Khi được động lực này thúc đẩy, ta lập nguyện: “Ta sẽ mang lại hạnh phúc cho tất cả hữu tình.” Trong Bồ tát Hạnh, Tịch Thiên giải thích làm thế nào để thiền quán cho:

 

Để thành tựu lợi lạc cho tất cả hữu tình,
Tôi sẽ biến hiện thân mình thành viên ngọc như ý.

 

Khởi đầu, ta nghĩ:

 

Mong thiện nghiệp của tôi rải khắp tất cả chúng sinh,

để họ hưởng được hạnh phúc tạm thời và vĩnh cửu.

 

Với lời nguyện mạnh mẽ ấy ta tưởng tượng thân mình biến thành viên ngọc ước với những tia sáng lóng lánh chiếu đến tất cả sáu nẻo luân hồi. Những tia sáng này tịnh hóa mọi hoàn cảnh trong sáu nẻo và đem lại cho những chúng sinh trong đó mọi thứ mà họ mong ước. Chúng sinh trong các địa ngục nóng thì nhận được những cơn mưa mát mẻ, trong địa ngục lạnh thì nhận được mặt trời ấm áp, quỷ đói được uống ăn, súc sinh có được trí tuệ, loài người thỏa mãn mọi mong ước và nhu cầu, a tu la được hài lòng an tịnh, và chư thiên thì được giải thoát. Ta khởi lên niềm tin tất cả đều được thỏa mãn hoàn toàn, được niềm vui vô nhiễm, rồi phát sinh hỉ lạc lớn lao trước hạnh phúc mà hữu tình vừa đạt được. Duy trì cảm giác ấy bằng cách nhất tâm an trú trên nó càng lâu càng tốt. Pháp quán ban phát hạnh phúc này là một phương sách tối thượng để tích tập công đức và tăng trưởng tâm Từ.

 

Đưa hai pháp này vào hơi thở

 

Khi đã nắm vững các pháp hành nhận và cho, ta có thể phối hợp chúng với hơi thở để tăng cường sự tu tập. Khi hít vào, ta khởi tâm đại bi đối với tất cả hữu tình, tưởng như ta đang đón nhận vào mình tất cả khổ đau của họ dưới dạng luồng khói đen đi vào tim ta, phá hủy tâm ngã ái nơi ta. Giữ hơi lại một lúc với ý niệm nay tất cả chúng sinh đã thoát khổ, và ác nghiệp cùng ngã ái nơi tôi cũng hoàn toàn chấm dứt. Khi thở ra, khởi tâm từ mãnh liệt và nghĩ, ta đang ban phát hạnh phúc và thiện đức của ta cho mọi hữu tình. Tưởng tượng ta đang thở ra những tia sáng mà bản chất là hạnh phúc an lạc của chính ta trong hiện tại và tương lai. Ta phát khởi niềm tin rằng, do kết quả sự tu tập của mình, tất cả chúng sinh hưởng được hạnh phúc thuần tịnh. Có sự tương quan chặt chẽ giữa tâm ta với những luồng khí lực trong ta. Khi pháp hành cho và nhận được kết hợp với hơi thở, nó cũng kết hợp với nội khí của ta, nhờ vậy điều hòa được hơi thở và do đó điều hòa tâm. Khi thuần thục với pháp hành này, hơi thở ta ngay cả trong khi ngủ cũng chuyển thành pháp tu cho và nhận, nên chỉ một hành vi thở cũng trở nên đầy  ý nghĩa. Đức Chekhawa, đức Tsongkhapa và nhiều thiền gia vĩ đại khác đã có thể chuyển hóa hơi thở theo cách ấy. Khi đã thực hành cho và nhận đến mức thuần thục, thì dù đang ở bất cứ nơi nào, lúc đi đứng nằm ngồi ta đều có thể kết hợp pháp tu ấy vào hơi thở. Nó sẽ giúp ta phát triển được định lực hết sức bền vững và tinh vi. Pháp hành cho và nhận còn có thể giúp chữa khỏi bệnh tật. Ngay cả một người mắc bệnh nan y khi thực hành pháp nhận và cho này, nhấn mạnh sự thâu nhận (khổ đau của kẻ khác), có thể giảm bệnh hoặc khỏi hẳn. Ví dụ nếu bị ung thư, ta nên nghĩ đến tất cả những người trên khắp thế giới hiện tại cũng đang mắc bệnh  này. Nghĩ đến họ một lúc, phát tâm thương xót mãnh liệt. Rồi phát đại nguyện:

 

Tôi sẽ gánh thay bệnh ung thư của tất cả những người ấy, để cho họ được thoát khỏi đau đớn do cơn bệnh này mang lại.

 

Quán tưởng tất cả bệnh ung thư quy tụ lại dưới dạng một luồng khói đen đang rời khỏi những bệnh nhân mà tan vào trong khối ung thư của chính ta. Tưởng tượng nhờ vậy mà tất cả người bệnh bây giờ lấy lại được sức khỏe. Có thể nào kỹ thuật này chữa lành bệnh hay không? Có thể, vì khi phát tâm chịu thay bệnh hoạn và khổ đau cho kẻ khác với tâm bi mẫn, ta sẽ tịnh hóa được những ác nghiệp gây bệnh, khiến bệnh kéo dài. Y học khó mà chữa khỏi bệnh ung thư, nhưng khi một người bị bệnh ung thư biết sám hối ác nghiệp khiến họ bị bệnh, thì khi người ấy có thể hồi phục. Pháp hành cho và nhận này hết sức hữu ích trong mọi trường hợp bị bệnh hiểm nghèo. Đấy là một trong những lý do khiến thầy Chekhawa đã giúp nhiều người bệnh cùi tự chữa lành được bệnh. Ở Tây Tạng, đã có nhiều trường hợp những người ốm sau khi được y sĩ cho biết mắc bệnh nan y, bèn bố thí tất cả tài sản, bỏ nhà đi vào nghĩa địa để chờ chết. Trong khi chờ đợi tại nghĩa địa, họ thực hành phương pháp cho và nhận với định lực sâu xa; nhưng cuối cùng đã không chết, mà hết bệnh nên lại trở về.

 

Trước khi thiền quán cho và nhận, hãy dâng cúng một mandala lên chư Phật Bồ tát và thánh chúng với niềm tin tưởng, cầu xin năng lực gia trì của các ngài để ta có được thực chứng về pháp hành này. Có thể tụng ba lần đoạn sau đây trong Cúng Dường Đạo Sư:

 

Hỡi đấng Đạo Sư tôn kính đầy lòng bi mẫn,
Con cầu xin sự gia trì của Người
Khiến cho tất cả đau khổ, ác nghiệp và chướng ngại
của toàn thể chúng sinh mà con xem như mẹ mình,
ngay giờ phút này sẽ trút cả lên con;
Nhờ con ban bố đức hạnh và an vui của con cho người khác,
Mong sao tất cả hữu tình được hạnh phúc an vui.

 

6. Thiền quán về tâm bồ đề

 

Chúng ta phải tu tập pháp hành cho và nhận với tâm bi mẫn và tình thương lớn rộng, mong mỏi giải thoát tất cả chúng sinh khỏi khổ, mong đem lại cho họ chân hạnh phúc. Tuy nhiên, chỉ mong ước mà thôi thì chưa đủ. Khi đứa con của ta bị rớt xuống biển đang chết đuối, thì ta không thể chỉ ngồi mà mong cầu cho nó khỏi chết, dù sự cầu nguyện có tha thiết đến đâu. Ta phải làm một điều gì thiết thực để cứu nó. Cũng thế, ta phải quyết tâm hành động để giải thoát hữu tình khỏi khổ. Duy trì quyết tâm ấy, ta thiền định về nó càng lâu càng tốt; đây gọi là luyện tập về ý nguyện cao cả, hay đào luyện tăng thượng tâm. Ta có thể tự hỏi: “Dù có muốn đi nữa, tôi làm sao che chở được tất cả hữu tình?” Suy xét kỹ ta mới thấy chỉ có những bậc giác ngộ mới có được năng lực này, vì đã hoàn toàn thoát khỏi các chướng ngại và có tâm đại  bi bình đẳng. chỉ có chư Phật mới đủ phương tiện khéo để giúp tất cả hữu tình bằng nhiều cách, và ban bố sự giúp đỡ không thiên vị. Khi nhận thức điều này, ta quyết định: “Tôi phải đạt giác ngộ để lợi lạc tất cả hữu tình.” Tâm này gọi là bồ đề tâm. Ta phải duy trì tâm ấy và thiền định về nó càng lâu càng tốt. Khi mới phát tâm bồ đề, nó được gọi là “tâm bồ đề giả tạo” vì phải cố gắng mới phát được, nhưng nếu ta tiếp tục tăng trưởng tâm ấy bằng thiền định, cuối cùng nó sẽ khởi lên một cách tự nhiên không cần cố gắng. Tâm bồ đề tự nhiên này mới thực thụ là bồ đề tâm. Trong khi luyện tâm bồ đề, điều quan trọng là ta phải ngăn cho tâm ấy đừng thối thất. Có thể làm điều này bằng cách tu tập hàng ngày như sau. Quán tưởng tất cả chư Phật, Bồ tát và thánh chúng đang ở trước mặt ta, và lặp lời hứa như sau ba lần:

 

Từ giờ phút này trở đi cho đến khi thành Phật,
Dù có phải mất mạng
Con sẽ duy trì ước mong đạt đến toàn giác
Để giải thoát tất cả hữu tình khỏi những nỗi sợ sinh tử và sự an bình riêng tư.

 

Pháp hành này làm cho bồ đề tâm của ta vững chắc không thối chuyển. Bước kết tiếp là thọ giới Bồ tát. Muốn làm việc này ta quán tưởng trước mắt chúng hội chư Phật Bồ tát và Thánh hiền, rồi với lòng thương xót tất cả hữu tình, ta nghĩ: “Tôi phải đạt giác ngộ, phải làm lợi lạc tất cả  chúng sinh. Muốn thành tựu điều này, tôi phải thọ giới Bồ tát và thực hành sáu ba la mật.” Với động lực này, ta thọ giới Bồ tát bằng cách tụng bài sau đây ba lần:

 

Hỡi các bậc thầy, chư Phật và Bồ tát
Xin các Ngài hãy lắng nghe con nói đây
Như tất cả các đấng Thiện thệ về trước,
Đã phát tâm Bồ đề,
Và hoàn tất mọi giai đoạn của tiến trình
Tu tập Bồ tát hạnh,
Cũng vậy hôm nay, vì tất cả hữu tình,
Con xin phát tâm bồ đề
Và hoàn tất mọi giai đoạn trong tiến trình tu tập.

 

Sau khi thọ giới Bồ tát như vậy ta nên tu tập sáu Ba la mật với động lực là tâm Bồ đề. Tất cả sự tu tập của Bồ tát đều bao hàm trong sáu Ba la mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Nhờ tuần tự tiến tu sáu Ba la mật, cuối cùng ta sẽ đạt đến giác ngộ lớn lao. Sáu ba la mật hết sức rộng lớn sâu xa, nhưng chúng ta có thể tu tập tuần tự, bằng cách thành tâm thực hành Mười Tám Nguyện và Hai Mươi Hai Giới về tu tâm, với động lực là tâm Bồ đề.

 

Tu Tập Ngoài Thời Thiền Quán

 

Ba đối tượng, ba độc và ba thiện căn

Là chỉ giáo vắn tắt cho sự chứng đắc về sau.

 

Ở đây ba đối tượng là dễ ưa, khó ưa và trung tính. Mọi đối tượng ta nhận thức đều bao hàm trong ba loại này.

 

Ba độc là tham, sân, và si; và ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô si. Sự chứng đắc về sau có nghĩa là sự tu tập của chúng ta ngoài thời thiền định. Vô tham là một đức tính đặc biệt của tâm đối lại với sự tham luyến, nó không chỉ đơn thuần là sự vắng bóng tham dục. Vô tham là một thiện tâm, trong khi vắng bóng tham dục mà thôi thì không nhất thiết là một tâm thiện. Ví dụ một hài nhi thì không có ham muốn đối với rượu, nhưng sự thiếu ham muốn này không phải là một đức hạnh. Nói đúng ra, vô tham chính là sự từ bỏ ước muốn xa lìa sinh tử. Vô sân là một đức tính đặc biệt của tâm, như tình yêu hay nhẫn nhục có tác dụng ngược hẳn với sự thù ghét hay cơn giận dữ. Vô si là trí tuệ tác động như đối thủ của sự chấp ngã hay ngu si đối với thực chất của vạn pháp. Khi một trong ba đối tượng xuất hiện trong tâm phàm phu thì nó thường phát sinh ba độc tố nói trên. Đối tượng hấp dẫn làm phát sinh tham lam, đối tượng không hấp dẫn làm phát sinh giận dữ, và đối tượng trung tính làm phát sinh vô minh. Đối với người thường, khi không thiền định, thì mọi kinh nghiệm đều bao hàm sự tiếp xúc ba đối tượng và phát sinh ba độc tố. Nhưng người đặc biệt lưu ý việc tu tâm thì phải cố thay đổi tình huống này, để phát triển ba thiện tâm thay vì ba độc tố. Mỗi khi gặp đối tượng hấp dẫn, ta nên cố ngăn khởi lòng tham và đào luyện vô tham; khi gặp điều khó chịu, cố ngăn ghét giận và đào luyện vô sân; và khi gặp đối tượng trung tính, cố ngăn khởi ngu si để nhận hữu nội tại), nhờ vậy tăng trưởng trí tuệ. Sự tu tập này gọi là chế ngự cửa ngõ giác quan. Nhờ liên tục thực hành sự chế ngự cửa ngõ giác quan theo cách ấy, ta sẽ thấy bằng kinh nghiệm bản thân rằng đấy là một phương pháp thật hữu hiệu để dẹp những độc tố trong tâm ta và tăng trưởng tâm đại bi và công đức. Khi ta đạt đến giai đoạn mà mọi đối tượng đều gây cho ta cơ hội để phát triển thiện tâm, thì toàn thể cuộc đời ta sẽ trở thành đối tượng cho ta tu tập. Xin xem thêm tác phẩm Tìm Hiểu Tâm (Understanding the Mind) để biết thêm về ba độc tố và ba thiện căn. Nếu ta thấy rằng những nỗ lực của mình để chế ngự các cửa giác quan ngoài thời thiền định quá yếu không thể vượt qua tham sân mãnh liệt, thì có thể thử phương pháp sau đây. Trước hết ta nên cố tìm ra vọng tưởng nằm ở đâu. Nó nằm trong thân? Nơi quả tim hay trong đầu? Thực chất nó là gì? Sau khi xét kỹ, ta sẽ khám phá rằng ta không thể tìm thấy nó, nó đã hoàn toàn biến mất. Ta có thể dùng phương pháp ấy để vượt qua si mê và những vọng tưởng khác. Sự tu tập của chúng ta ngoài thời thiền định sẽ hỗ trợ cho sự tu tập trong thời thiền và ngược lại; cả hai sẽ giúp chúng ta đạt thực chứng nhanh chóng. Tuy nhiên điều này không dễ, vì ta đã quen với ba độc tố từ vô thỉ nên chúng cứ khởi lên một cách tự nhiên ngay cả trong Khi tu luyện tâm, ta nên thực hành pháp nhận chịu thay, mỗi khi ba độc tố trồi lên trong tâm ta. Với lòng bi mẫn mãnh liệt, ta nên nghĩ:

 

Mọi hữu tình tôi xem như mẹ đều có các bệnh si mê kinh niên
Mong tôi gặt quả tham sân si của họ, để họ thoát ba độc tố này.

 

Muốn ghi nhớ điều này, trong mọi hoạt động hãy tu tập bằng những câu kệ.

 

Hai dòng này trong bản văn gốc khuyên ta nên học thuộc lòng một số bài để tụng vào những lúc thích hợp, để nhắc nhở mình tu pháp đổi địa vị mình với người, nhất là pháp cho và nhận. Có nhiều trích dẫn trong kinh ta có thể chọn nhặt. Ví dụ trong một kinh nói về đời sống của Bồ tát Norsang, Phật dạy: Ông nên nghĩ như sau: “Mong tôi chịu thay những đau khổ của chúng sinh, và thân tôi biến thành bất cứ gì lợi lạc cho họ.” Trong Kinh Ca Tụng Những Hành Vi Tối Thượng, Phật dạy: Mong những thống khổ vô biên Của trời, người, a tu la, Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh sẽ trút lên tôi Và mong hữu tình được tất cả hạnh phúc.

 

Trong Bồ tát Hạnh, Tịch Thiên nói: Bao thống khổ chúng sinh tạo tác Tôi nguyền xin lãnh hết nơi thân Bao nhiêu Bồ tát thiện nhân Quả son xin nguyện hiến dâng hữu tình. Và trong Tám Bài Kệ Luyện Tâm, Geshe Langri Tangpa nói: Tóm lại, mong tôi trực tiếp và gián tiếp Cống hiến giúp đỡ và đem hạnh phúc cho tất cả hữu tình; Và âm thầm rước vào bản thân Mọi tai họa và khổ đau của họ. Trong những hoạt động hàng ngày, sự thường xuyên tụng đọc những câu trên đây sẽ giúp ta nhớ lại luôn luôn pháp hành cho và nhận.

 

Geshe Kelsang Gyatso

Thích Nữ Trí Hải dịch

Gửi phản hồi

 

^ Về đầu trang
new jordan shoes , cheap jordan shoes , cheap hockey jerseys , cheap jordans for sale , Cheap basketball shoes , cheap jordans online , cheap jordans online , cheap jordans shoes , Discount Jerseys China , Wholesale Nfl Jerseys Free Shipping,cheap nhl jerseys china , replica nhl jerseys , cheap nfl jerseys online , cheap MLB jerseys , cheap mlb jerseys from china , cheap nfl jerseys from china , cheap nike nfl jerseys
Thiết kế website